Chiếc nỏ của ông Kẹo

Đây là món quà vô giá được ông Khăm Xẻn Vông No Kẹo - cháu nội ông Kẹo, trao cho tôi vào năm 2009. Chiếc nỏ đã gẫy lẫy, dây gai mủn từ lâu, chỉ còn lại cánh nỏ làm bằng tre và báng gỗ ngả màu nâu đen bóng.
 
Năm 1966, Khăm Xẻn và tôi được cấp trên phân công đến tỉnh Luông Nậm Thà (Lào) nghiên cứu về người Lữ và các dân tộc khác ở Bắc Lào. Hơn nửa thế kỷ gắn bó, chúng tôi vừa là đồng chí, đồng nghiệp vừa là bạn thân. Nhiều lần Khăm Xẻn bảo sẽ dành tặng một phần diện tích đất cho tôi làm nhà và rủ tôi sang Lào sinh sống để sớm tối gặp nhau. Mỗi lần có dịp sang Việt Nam công tác, Khăm Xẻn lại tranh thủ đến thăm gia đình tôi. Mối quan hệ giữa hai nhà càng thêm thân thiết, gắn bó sâu sắc khi con trai tôi chơi thân với con trai Khăm Xẻn.
 
Tôi nghiên cứu lịch sử Lào, trong đó có cuộc khởi nghĩa chống Pháp của ông Kẹo từ năm 1901 đến năm 1907, tiếp theo là ông Kommađam từ năm 1907 đến năm 1936. Năm 2009, sang Lào công tác, gặp Khăm Xẻn, tôi hỏi anh có tài liệu hay kỷ vật nào của ông nội để lại. Khăm Xẻn kể: Anh đang viết một cuốn sách về ông Kẹo và phong trào khởi nghĩa chống Pháp ở Lào thời kỳ đầu. Riêng kỷ vật, gia đình anh đang giữ hai chiếc nỏ của ông nội.
 
Theo lời Khăm Xẻn: Cuối những năm 1890 đầu những năm 1900, nhân dân các bộ tộc Lào liên minh với nhau chống Pháp. Cuộc khởi nghĩa của ông Kẹo và Kommađam được nhân dân vùng cao nguyên Boloven và nhân dân vùng biên giới Việt - Lào hưởng ứng. Vũ khí người dân khi ấy sử dụng chủ yếu là nỏ, cung, giáo, mác, bẫy bằng gỗ... Cái lợi hại của nỏ chính là ở những mũi tên tẩm độc. Bị bắn ở cự ly gần, kẻ địch trúng tên khó qua khỏi.
 
Hai chiếc nỏ được các thế hệ trong gia đình Khăm Xẻn lưu giữ nhiều năm. Khăm Xẻn nói với tôi: “Chúng ta là anh em sống chết có nhau, tôi muốn tặng anh chiếc nỏ, mỗi gia đình giữ một chiếc để làm kỷ niệm”.
 
Nhận chiếc nỏ, tôi rất xúc động, không ngờ bạn lại tặng tôi món quà vô giá đến vậy. Chiếc nỏ khi ấy vẫn còn nguyên lẫy và dây gai. Theo lời khuyên của Khăm Xẻn, tôi tháo cánh và báng nỏ ra, gói vào vải rồi đưa lên máy bay. Điều tôi nuối tiếc nhất là không có máy ảnh để ghi lại thời khắc bạn trao cho tôi kỷ vật ấy.
Đưa nỏ về Việt Nam, tôi trang trọng treo trong phòng làm việc. Mỗi lần nhớ bạn tôi lại nhìn lên chiếc nỏ. Mỗi lần nhìn lên chiếc nỏ tôi lại nhớ đến bạn. Năm 2015, Khăm Xẻn qua đời, tôi cứ suy nghĩ mãi về chiếc nỏ.
 
Ông Đào Văn Tiến bên chiếc nỏ hơn 100 tuổi của ông Kẹo. Ảnh: Minh Thắng.
 
Nếu không có cuộc thi “Kỷ vật kể chuyện” do tạp chí Thời Đại phối hợp với Đại sứ quán CHDCND Lào tại Việt Nam, Hội hữu nghị hai nước Việt Nam, Lào tổ chức, chiếc nỏ có lẽ vẫn chỉ nằm trong kỷ niệm cùng những kỷ vật của tôi về Lào. Cuộc thi này chính là cơ hội để những kỷ vật vô giá ấy được lan tỏa.
 
Nhưng để giá trị của chiếc nỏ được lan tỏa rộng rãi hơn, tôi mong muốn trao nó lại cho con trai Khăm Xẻn để cháu đưa vào bảo tàng ở Viêng Chăn hoặc Salavan để nhắc nhớ người dân về một thời kỳ lịch sử không thể nào quên của Lào.
 
Ông Tiến lần giở lại kỷ vật được bạn Lào trao tặng. Ảnh: Minh Thắng.
 
Khi Khăm Xẻn qua đời, bạn tôi đã hoàn thành bản thảo cuốn sách viết về sự nghiệp cách mạng của ông Kẹo, tiếc là sách chưa được xuất bản.
 
Tôi có ước nguyện dịch cuốn sách ấy ra tiếng Việt để nhân dân hai nước có thể biết mối quan hệ hữu nghị vĩ đại Việt – Lào đã gắn bó sâu sắc từ xưa, tiếc rằng tôi không còn đủ sức. Tôi sẵn sàng giao bản thảo cuốn sách cho tổ tiếng Lào của tạp chí Thời Đại, nhờ các phóng viên thay tôi hoàn thành ước nguyện này.
 
Đào Văn Tiến, cựu chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào